Tel:   0989 791982 Hotline: 0989 791982 - 0918 681982 Email: tuan6282@gmail.com

PHỐI PHƯƠNG CHÂM CỨU

11:07:00 03/07/2018

PHỐI PHƯƠNG CHÂM CỨU

(PP ĐIỀU TRỊ - PP CHỌN HUYỆT - PP HỢP PHƯƠNG)

“Phối phương châm cứu” hay nói khác hơn “phối huyệt châm cứu” là phần học vừa cổ điển lại vừa mới mẻ, nó là tổng kết kinh nghiệm điều trị lâm sàng của các nhà y học qua các thời đại. Sự vận dụng và mở rộng nghiên cứu tài sản đó là khâu không thể thiếu trong sự phát triển sự nghiệp của bộ môn châm cứu nói chung.

Phối huyệt là do các huyệt vị kết hợp mà thành, nhưng nó không nhất định hoặc không chỉ là tổng số công năng của các huyệt hợp thành. Sau khi các huyệt kết hợp trong phối phương thông qua việc phối hợp lẫn nhau, xúc tiến, ức chế hay hưng phấn … đi tới chỗ có thể làm cho khả năng điều trị được phát huy tối đa, cũng có thể làm cho yếu tố bất lợi nào đó với cơ thể được giảm bớt hoặc mất đi. Do đó, tác dụng của phối phương nhiều huyệt cao hơn so với tác dụng phối phương đơn huyệt.

Sau khi phối ngũ kết hợp thành phương huyệt thì tính đặc trị của mỗi huyệt tỏ ra nổi bật hơn, cộng thêm kỹ thuật vận dụng các thủ thuật đúng mực hình thành tác dụng điều trị hỗ trợ chuyên nhất: hoặc Bổ, hoặc Tả, hoặc Ôn, hoặc Tiêu,… từ đó đạt tới mục đích điều trị như dự định!

“Phương huyệt” là kết quả của quá trình “Biện chứng luận trị” theo 4 bước: LÝ – PHÁP – PHƯƠNG – HUYỆT. “Lý” có nghĩa là biện chứng cầu lý, “Pháp” là phương pháp điều trị dưới sự chỉ định bởi “Lý”, “Phương” là phối phương châm cứu đã chọn trong phạm vi trị “Pháp”, “Huyệt” là huyệt vị được lựa chọn theo chủ ý của “Pháp”.

Phối Phương Châm Cứu thể hiện quan điểm biện chứng luận trị có tính logic cao của Y Học Cổ Truyền Phương Đông.

I. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ: (Phép tắc điều trị)

Căn cứ vào lý luận, quy nạp thành 8 pháp: Hãn, Thông, Tiêu, Hợp, Ôn, Thanh, Bổ, Tả.

1. HÃN PHÁP

Hãn pháp được lập ra để chống đối ngoại tà xâm phạm nhân thể, tà còn ở bì mao tấu lý và kinh lạc, xuất hiện các chứng kinh lạc không thông, phế khí ách tắc. Hãn pháp là phương pháp làm cho tà khí phát tiết ra ngoài.

Chọn huyệt:

  • Thường chọn huyệt trên kinh Dương: Kinh Dương chủ phần biểu, huyệt trên kinh Dương có tác dụng thông dương hành khí, lợi cho giải biểu tà. Ngoài chọn huyệt 3 kinh Dương, còn tương đối coi trọng chọn huyệt trên Mạch Đốc nhằm tráng dương khí, tăng cường sức giải biểu.

  • Phong tà khu trú ở phần trên, Hãn pháp sinh từ lưng. Vì vậy phần nhiều chọn huyệt ở vùng đầu cổ. Ví dụ: Thái Dương phong hàn chọn huyệt Thiên Trụ, Thiếu Dương phong hàn chọn huyệt Phong Trì; trên Mạch Đốc thì chọn Phong phủ, Đại Chùy, Đào Đạo.

  • Căn cứ lý luận Phế chủ biểu, chọn huyệt trên kinh Phế. Ví dụ như: Phát sốt, nếu lấy chứng trạng Kinh lạc làm chủ-chứng trạng Phế làm phụ có thể chọn huyệt Ngư Tế; nếu lấy chứng trạng Phế làm chủ có thể chọn huyệt Liệt Khuyết.

Đặc điểm:

  • Phối ngũ giữa 3 huyệt của 3 kinh Dương với Mạch Đốc: Khi ngoại tà xâm phạm kinh lạc.

  • Sau khi chọn huyệt trên kinh Phế phối với huyệt kinh Thủ Quyết Âm: Khi ngoại tà xâm phạm Phế.

  • Phối ngũ cách xa của kinh Dương Minh. Khi ngoại tà nhập lý.

Chú ý:

  • Kết hợp hơ nóng: Thường hơ nóng cổ gáy và bả vai để trợ Dương khử tà.

  • Lựa chọn thời gian thích hợp châm cứu: Ban ngày. Dương khí của vũ trụ sẽ hỗ trợ dương khí nhân thể.

    2. THÔNG PHÁP

Thông pháp thường dùng trị Phong Hàn Thấp tà xâm phạm nhân thể làm cho khí huyết trở trệ, kinh lạc bế tắc, sản vật bệnh lý ngưng trệ. Bộ vị bệnh chứng chủ yếu ở phần da, thịt, gân mạch, xương cốt. Thông pháp ngoài khả năng thông kinh hoạt lạc, tức là khai thông trở trệ, còn có tác dụng điều chỉnh công năng của khí huyết, kinh lạc, làm cho trạng thái sinh lý khôi phục trở lại bình thường.

Chọn huyệt:

  • Chọn huyệt khai khiếu thông đạt khí cơ mạnh, trong đó lấy Tỉnh huyệt làm chủ.

  • Chọn huyệt Du, Mộ có liên quan mật thiết với khi cơ tạng phủ. VD: đau lưng chọn Thận Du, bĩ thống (đau đầy tức) chọn huyệt Chương Môn.

  • Chọn huyệt tại chỗ. VD: Ngạt mũi chọn Nghinh hương, đau đầu gối chọn Lương Khâu.

Đặc điểm:

* Phối ngũ huyệt đồng loại. Mục đích làm tăng cường sức thông đạt của khí cơ. VD: Ẩn Bạch, Đại Đôn (cùng là huyệt Tỉnh); Cách Du, Tỳ Du, Thận Du (cùng là ngũ du huyệt).

* Phối hợp huyệt tại chỗ với huyệt xa. Mục đích làm cho khí huyết vận hành thông sướng, thời gian tương đối lâu dài hơn. VD: trị đau lưng dùng Thận Du phối hợp với Ủy Trung, Côn Lôn.

* Bệnh chứng áp dụng Thông pháp điều trị, nói chung là bệnh tình mạn tính, liệu trình điều trị tương đối dài. Trong quá trình châm thích phải chú ý:

- Động viên BN thực hiện 1 số động tác bổ trợ để tăng cường sức đả thông kinh lạc, khí huyết.

- Chứng ngưng tụ nên kết hợp sử dụng thêm ôn hoặc cứu nhằm lợi cho sự đến tụ của chính khí và sự lưu sướng của khí huyết.

- Hướng dẫn BN về nhà tập 1 số động tác vận động hợp lý.

3. TIÊU PHÁP

Tiêu pháp thích hợp dùng cho khí, huyết, đờm, thực, thấp đình trệ trong nhân thể đồng thời hình thành loại bệnh chứng có sản vật bệnh lý hữu hình. Những loại bệnh này thời gian thành bệnh tương đối dài hơn, tà khí uất kết ko tan, chính khí tương đối nhu nhược; trong tình trạng khó khăn là tả ko đi, bổ lại ko được. Chỉ có thể chọn dùng Tiêu pháp, vận dụng khả năng “tiêu trệ tán kết” mới đạt đến mục đích đuổi tà mà ko tổn thương tới chính khí.

Đặc điểm:

          * Chọn huyệt trên kinh Dương Minh hoặc kinh Thái Âm, lấy gốc của hậu thiên điều đạt khí huyết kinh lạc: Chủ trị chứng bệnh ko phải là loại nặng.

          * Chọn huyệt Du, Mộ của Tỳ Vị, lấy gốc của hậu thiên điều đạt khí huyết tạng phủ: Chủ trị chứng bệnh tương đối ngoan cố hơn.

          * Chọn huyệt tại chỗ bệnh biến làm tăng cường thông đạt khí huyết tại chỗ: Chủ trị chứng bệnh tương đối cấp, do đó mang tính chống đối rõ ràng hơn.

Chú ý:

- Tiêu Pháp là một phép hoãn công (công chậm), lấy đuổi tà làm chủ, đuổi tà lại lấy tiêu tán làm chủ. Khi châm thích thường dùng phép bình bổ bình tả, đồng thời cũng dùng Mai hoa châm gõ vùng bệnh biến, kinh lạc làm cho khu vực đc châm thêm rộng lớn, khả năng vận hành khí huyết thêm mạnh, khiến tác dụng Tiêu pháp hòa hoãn và liên tục.

- Bởi vì khối kết là vật hữu hình phần nhiều thuộc âm hàn ngưng trệ, do đó sử dụng phép cứu kết hợp có thể làm bệnh tình thuyên giảm nhanh hơn. Ngoài cứu tại huyệt vị ra, còn có thể cứu tại chỗ kết khối nhưng cần phải chú ý dựa vào sự biến hóa của bệnh tình mà dùng các phép cứu cho phù hợp.

4. HỢP PHÁP

Hợp pháp là chỉ về sự phối hợp Âm Dương lẫn nhau, phần nhiều được áp dụng khi trong cơ thể Âm Dương, Hư Thực ko đúng mực. Hợp pháp có 2 hàm nghĩa:

* Hợp hình với khí: hình là chủ về hình thể, khí là chủ về khí cơ. Hình thể trông to, khỏe mạnh (thực) mà khí hư; hình thể hư nhược mà khí thịnh đều thuộc loại hình khí ko hợp. Khi hình-khí ko tương hợp thì bệnh tình trở lên phức tạp, trên lâm sàng cần phải phân tích tình trạng tranh đấu giữa tà và chính (xét hình và khí) mà vận dụng trị liệu linh hoạt. Bất luận hình khí bất túc hay hữu dư, đều phải chú ý tư tưởng chủ đạo chung tả tà cứu chính, bổ chính mà khử tà. Về phòng bệnh bảo kiện (giữ gìn sk), tư tưởng “Hợp hình với khí” cũng rất quan trọng, như phối ngũ giữa Bách Hội, Quan Nguyên, Khí Hải, Túc Tam Lý.

* Điều hòa Âm Dương: bao gồm sự biến hóa các dạng âm dương trong cơ thể, chủ yếu là chỉ về biến hóa bệnh lý: âm dương thiên thịnh thiên suy, âm dương cách cự,… như Tâm Thận bất giao, Can Tỳ bất hòa, Khí Huyết ko thông, Kinh Lạc trở trệ,… là có thể sử dụng Hợp pháp.

Đặc điểm:

* Chọn huyệt cùng lúc trên kinh Âm Dương, hoặc bộ vị Âm Dương nhằm đạt đến mục đích điều chỉnh Âm Dương làm cho nó đc hòa hợp với nhau. VD: khí huyết bất túc chọn Túc Tam Lý phối hợp Tam Âm Giao; Tâm Thận bất giao chọn Tâm Du phối hợp Thận Du; Thận Hỏa bất túc chọn Mệnh Môn phối hợp Thần Khuyết; …

* Chọn huyệt tại bộ vị đối xứng Âm Dương của nhân thể. VD: Trúng phong bán thân bất toại châm thích 12 huyệt tỉnh (trái-phải); điều trị gót chân lệch trong hoặc lệch ngoài chọn Chiếu Hải phối hợp Thân Mạch; Can Tỳ bất hòa chọn Âm Lăng Tuyên phối hợp Dương Lăng Tuyền (trong-ngoài); trúng phong chọn Nhân Trung phối hợp Trung Xung (trê-dưới).

5. ÔN PHÁP

Ôn pháp thường dùng cho chứng hàn thấp trở trệ, dương khí hư suy thậm chí dương khí suy kiệt.

Đặc điểm:

* Chọn các huyệt tráng khí bổ hỏa như: Khí Hải, Quan Nguyên, Mệnh Môn,…

* Kết hợp Ôn Cứu đúng mức: ôn dưỡng ôn bổ, ôn thông ôn tán. Hợp lý về cường độ (ấm hay nóng), về thời gian (ít hay nhiều), về phạm vi (diện rộng hay hẹp).

* Vận dụng linh hoạt: cứu ấm, cứu nóng (cứu điếu ngải, đèn hồng ngoại); đắp hỏa (các mồi ngải, đắp thuốc+chiếu đèn hồng ngoại); chườm hỏa (chườm muối ngải, hỏa long cứu); …

Chú ý: Hàn thì làm cho nóng lên; Lao tổn thì làm cho ấm lên.

6. THANH PHÁP

Thanh pháp thường dùng khi cơ thể mắc hỏa, nhiệt tà. Chủ yếu điều trị chứng thực nhiệt, cũng có thể điều trị chứng hư nhiệt. Khí thực sinh nhiệt, khí hư cũng sinh nhiệt.

Đặc điểm:

* Chọn huyệt vị thông đạt khí cơ, đặc biệt là huyệt vị của kinh Dương Minh, VD: Khúc Trì, Hợp Cốc, Trung Phủ, Liệt Khuyết,… Khi cần tả hỏa trực tiếp thì phối hợp huyệt vị thuộc hỏa hoặc thuộc thổ, VD: Ngư Tế, Thái Xung, … hoặc chọn huyệt vị tại chỗ của hỏa khí tụ tập, VD: hỏa tụ phần trên cơ thể chọn Bách Hội, Thái Dương, Thượng Tinh; hỏa ngưng ở tạng phủ chọn huyệt Du, Mộ.

* Có thể kết hợp với phép cứu dạng ôn thông ôn tán nhằm đạt đến mục đích tán và tả hỏa tà, nhiệt tà.

Chú ý: Nếu nhiệt tà hung mãnh, biến hóa nhanh gấp thì nên phối hợp pp sau:

- Dùng phép tả lạc chích ra máu, lượng máu cho ra nhiều một chút, có thể lấy “máu chuyển đổi thì ngưng” làm mức chuẩn. Muốn làm cho chỗ châm ra máu nhanh thì thêm bầu giác tại chỗ thích.

- Dùng thủ pháp dẫn đạo: dùng 4 ngón tay của cả 2 tay véo đè đẩy động mạch cổ-gần như thủ thuật véo đẩy cột sống, từ trên xuống dưới đến giữa Khuyết Bồn.

- Nếu sốt cao mà ko ngừng đổ mồ hôi thì có thể tại kinh Túc Thái Dương chọn huyệt thích hợp, dùng phép châm bổ có thể liễm hãn.

7. BỔ PHÁP

- Bổ pháp là phương pháp thích hợp dùng cho hư chứng ở các mức độ khác nhau của khí huyết, tân dịch, tạng phủ, âm dương. Trong phối phương Bổ pháp huyệt vị chọn dùng đa số lấy bổ làm công năng chủ yếu như: Bách Hội, Đản Trung, Khí Hải, Túc Tam Lý để thăng bổ khí cơ; Quan Nguyên, Tam Âm Giao, Huyết Hải để bổ dưỡng âm huyết.

- Thủ thuật chính là châm bổ. Khi điều trị chứng hư thực lẫn lộn vẫn có thể dùng phối phương bổ dưỡng làm cơ bản, thủ pháp châm cứu điều chỉnh là được dùng bình bổ bình tả có thể đạt được mục đích phù chính khu tà.

- Khi cơ thể suy nhược hoặc khả năng phản ứng kém, châm thích thường kém hiệu quả. Do đó trong lúc khí âm dương đều bất túc, ko nên dùng phép châm thích mà nên dùng phép cứu điều trị, dương hư có thể sử dụng mà âm hư cũng có thể dùng, chỉ cần phối phương chính xác, phép cứu sử dụng đúng mức đều đạt hiệu quả điều trị.

8. TẢ PHÁP

- Tả pháp dùng cho các bệnh do khí cơ trở trệ ách tắc gây lên như: khí ngưng thấp trệ, khí uất hóa hỏa, hàn ngưng khí trệ, Can uất khí trệ, …Phối phương Tả pháp lấy tả tà làm chủ, phương hướng điều trị tương đối rõ ràng chính xác, chọn dùng có tác dụng thông, khai, tán, giáng, ...

- Châm thích dùng phép tả, khi cứu dùng phép thổi lửa, khi tà nặng quá có thể dùng phép cho ra máu. Chính khí hư nhược tà khí mạnh, muốn dùng phối phương Tả pháp thì phải dùng kỹ thuật châm bổ. VD: Thanh niên mất ngủ, suy nhược tinh thần, thuộc thể mất ngủ hư phiền nhiễu Tâm, chọn dùng: Đại Lăng tả Tâm hỏa, Nội Quan thông Tâm khí, Thần môn thông thần chí, thuộc phối phương Tả pháp, nhưng khi châm thích thì ko thể dùng Tả pháp mà phải dùng Bổ pháp, nếu ko thì chẳng những vô hiệu quả mà ngược lại càng làm cho bệnh tình thêm nặng. Chỉ có thông qua phối hợp thích đáng thủ pháp châm thích mới có thể đạt đến mục đích của Tả pháp.

- Khi sử dụng Tả pháp thường phối hợp các phương pháp sau:

+ Bầu giác: Đặc biệt là đối với người bệnh hàn thấp tà ngưng trệ, khí cơ ách tắc nặng, thêm dùng bầu giác tức là tăng cường khả năng tả tà. Khi dùng bầu giác có thể giác trên kim châm, hoặc sau rút kim thêm bầu giác.

+ Cạo gió: Đây là phương pháp tả tà mạnh hơn, thường sử dụng khi bệnh tình cấp bách, tà khí tương đối nặng, thường cạo theo kinh giữa 2 huyệt, toàn thân có thể cạo nhiều chỗ, phép cạo gió thường liên quan đến tuyến kinh lạc dài hơn, huyệt vị điều chỉnh nhiều hơn, luôn luôn đạt hiệu quả tả tà ko ngờ đến.

          Báp pháp ở trên, là đem tác dụng điều trị của phối phương châm cứu quy nạp từ phương diện rộng lớn, nếu phân tích tỉ mỉ mỗi một pháp lại có thể chia thành nhiều phép nhỏ. VD: Bổ pháp lại chia ra phép tuấn bổ, phép hoãn bổ, phép trực tiếp bổ, phép gián tiếp bổ. Mỗi phép lại phối hợp các phép khác như phép Thông Bổ, Ôn Bổ, Bổ trong Tả, Tả trong Bổ, Tiêu trong Bổ, Bổ trong Tiêu. Do đó, Bát Pháp lại có thể biến thành nhiều phép trị hơn, 1 phối phương bao gồm 1 phép hoặc vài phép để trị bệnh.

Trên lâm sàng cần vận dụng Bát pháp linh hoạt nhưng ko đc sai tính nguyên tắc của Bát pháp, “vạn biến không rời tông” có như thế mới phát huy đầy đủ tác dụng của phối phương trong điều trị lâm sàng, mới thực sự thống nhất được giữa lý luận châm cứu với thực tiễn lâm sàng. Y kinh viết: “Biết được điều quan trọng của nó, một chữ đến cùng; không biết điều quan trọng của nó, mất mát vô cùng”./.

II. PHƯƠNG PHÁP CHỌN HUYỆT:           

        Phối phương châm cứu là 1 mô thức quy phạm, chỉ dạy cho ta cách chung về chọn huyệt, phối huyệt. Nắm vững các phép tắc căn bản thì tiến tới có thể đối chứng lập phương, nhưng sau khi chọn phương cơ bản thì cần phải căn cứ vào sự biến hóa của bệnh tình mà linh hoạt gia giảm huyệt vị cho phù hợp.

        Hiện tại các nhà châm cứu vẫn đang vận dụng 6 phép tắc chọn huyệt căn bản là: Dẫn, Thượng, Hạ, Cự, Mao, Khai. Vận dụng hợp lý những phép tắc này có thể lập ra phối phương mới ngoài các phối phương cổ phương.

  1. DẪN PHÁP

        Dẫn pháp là phép chọn huyệt sử dụng lúc dẫn đạo khí cơ ở vùng trước sau (hoặc kinh âm dương). Tgian mắc bệnh tương đối dài hơn, bệnh thường ở tạng phủ luôn có tình trạng âm dương ko đều, khí huyết ko thông sướng, thiên về hư chứng nhiều, thực chứng và hư thực xen kẽ ít. Phép chọn huyệt của Dẫn pháp là Dương bệnh trị âm, âm bệnh trị dương, từ âm dẫn dương, từ dương dẫn âm.

Khí cơ của ngũ tạng lục phủ thông ở lưng hình thành Bối Du Huyệt, thông ở bụng hình thành Phúc Mộ Huyệt, như thế Du, Mộ huyệt có giá trị điều trị ngang nhau. Nhưng bệnh ngũ tạng thường chọn Du Huyệt vùng lưng điều trị, bệnh lục phủ thường chọn Mộ huyệt vùng bụng điều trị, đây là bởi vì ngũ tạng thuộc âm, lục phủ thuộc dương, lưng thuộc dương, bụng thuộc âm, do đó theo phép tắc tương dẫn của Dẫn pháp, Du huyệt trị tạng càng có lợi cho khôi phục chính khí của ngũ tạng, Mộ huyệt trị phủ càng có lợi cho khôi phục chính khí của lục phủ.

          Ngoài ra, dù rằng chọn huyệt tại chỗ có thể dẫn đạo kinh khí tụ tại chỗ ổ bệnh, chọn huyệt theo kinh có thể dẫn đạo kinh khí vận hành đến ổ bệnh, nhưng đây là một cơ chế chữa bệnh thuộc huyệt vị kinh lạc, không nhất định thuộc Dẫn Pháp. Bởi vì tất cả châm thích trị bệnh tại huyệt vị đều có thể nhìn thấy biểu hiện này mà Dẫn pháp là chỉ về phương pháp chọn huyệt khác nhau của vùng trước sau (hoặc kinh âm dương), điều chỉnh khí huyết âm dương tạng phủ ví như bệnh Can chọn huyệt kinh Đởm, bệnh Tỳ chọn huyệt  kinh Vị, đều thuộc phạm vi Dẫn Pháp.

  1. THƯỢNG PHÁP

          Thượng pháp là một phương pháp nhằm sử dụng thăng đề dương khí. Khí cơ trong nhân thể thăng giáng không ngừng, mới có thể làm cho âm dương toàn thân được điều tiết. Phàm những chứng bệnh do thăng khí vô lực tạo thành giáng khí bất lợi, đều có thể áp dụng phép này nhằm thăng mà giáng.

Bởi thượng (trên) là dương, hạ (dưới) là âm, âm khí chỉ có thể thăng để đi lên biến hóa mới có thể hóa sinh dương khí, do đó trong lúc âm khí thiên thịnh, dương khí bất túc, khí cơ không thăng được thì có thể sử dụng phép này. Huyệt vị chọn dùng nói chung thiên về phần trên, đặc biệt là ở vùng đầu nhiều hơn, không những là một huyệt Bách Hội, mà tất cả huyệt vị vùng đỉnh đầu đều có tác dụng thăng phát với các mức độ khác nhau.

Điều chú ý ở đây là trong lúc âm hàn đại thịnh, đặc biệt là khí Long Lôi Hỏa thượng viêm, cũng có thể dựa theo phép này chọn dụng huyệt vị, làm cho dương khí thượng thăng, Long Lôi Hỏa được diệt, do đó không nên bị một số chứng trạng bên ngoài làm mê hoặc đem dương hỏa thượng xung hỗn lộn với âm hỏa thượng viêm mà e sợ không dám tiến hành. Thực hỏa thương viêm có lúc cũng có thể chọn dùng huyệt vị vùng đầu, nhưng không thuộc thượng pháp, mà là tả hỏa, hoặc là khu phong, nói chung là lấy tả thực làm chủ, nên phải quy về các phép khác.

  1. HẠ PHÁP

          Hạ pháp là phép chọn huyệt được sử dụng để dẫn đạo khí cơ hạ giáng. Trong lúc dương khí thượng thăng thái quá đồng thời thăng mà không giáng, hoặc giáng khí vô lực mà dẫn đến thăng khí bất lợi, đều có thể chọn dùng phép này để giáng mà phục thăng. Thường ở vùng dưới chọn huyệt vị, đặc biệt là chọn huyệt vị phía dưới mắt cá chân. Đôi lúc cũng có thể chọn dùng huyệt vị từ cổ tay đến mút tay. Bởi Can chủ thăng, phế chủ giáng, do đó Hạ pháp thường chọn huyệt trên kinh Can để tả Can hỏa, làm cho không "thăng" thái quá. Chọn huyệt trên kinh Phế để "túc giáng" Phế khí, làm cho giáng khí hữu lực.

          Hạ pháp thường sử dụng phối hợp với Thượng pháp, nhằm làm cho thăng giáng điều hòa. Đương nhiên ở đây với thủ pháp bổ tả trong thủ pháp châm thích không hẳn giống nhau.

Ngoài ra, lục phủ có bệnh mà chọn Hạ hợp huyệt để điều trị, nói chung là thuộc Hạ pháp. Trong khi tà thực thường lấy giáng khí làm chủ, bởi vì lục phủ nhằm thông. Thực tà không thông, điều nên giáng không giáng được, thì điều nên thăng không thăng được, do đó hạ khí giáng hỏa nghĩa là có thể thông phủ mà đạt đến mục đích thăng giáng điều hòa.

Trong lúc tạng phủ hư nhược thì lấy thăng khí làm chủ mà giáng khí một cách thích hợp, cho nên cũng có thể chọn dùng Hạ pháp phối hợp Thăng pháp để sử dụng. Có thể cho thấy rằng tương tự chọn dùng một số huyệt vị nào đó hoặc một huyệt vị nào đó, cũng cần chú ý sự linh hoạt thay đổi của phép dùng. Còn nữa, nếu bởi Phế hư khí bức (nén), có thể từ góc độ Phế chủ “túc giáng” chọn huyệt xa trên kinh phế, cũng có thể từ góc độ Thận chủ “nạp khí” chọn huyệt xa trên kinh Thận, một thủ kinh một túc kinh, kinh lạc khác nhau, vị trí khác nhau nhưng đều thuộc hạ pháp. Có thể cho thấy cùng một bệnh tình, cùng một hạ pháp, song huyệt vị chọn dùng có thể khác nhau, thậm chí khác nhau rất nhiều, trong lúc lâm sàng tất cả đều cần phải nhận thức về xử sự linh hoạt.

  1. CỰ PHÁP

          Cự pháp tức là Cự thích pháp. Với đặc điểm là bệnh bên trái chọn bên phải, bệnh bên phải chọn bên trái, chọn huyệt trên kinh mạch. Nguyên nhân bệnh chứng thích hợp cho cự pháp, đó là dựa theo “Tố Vấn - Mâu thích luận” đã nói rằng: “Tà khách (đến chiếm) ở kinh, bên trái thịnh, bên phải bệnh, bên phải thịnh thì bên trái bệnh”, có thể lấy bắt mạch làm chỗ dựa chuẩn đoán. Người bình thường là âm bình dương bí (kín), âm dương trái phải cũng phải ở trạng thái tương đối là ổn định, tà khí xâm phạm kinh mạch có thể tạo thành sự thiên thắng của âm dương tả hữu (trái phải) từ đó dẫn đến một bên nào đó trong nhân thể mà khí cơ hư loạn ở bên phải, thì bệnh tình biểu hiện ở bên trái. Ngược lại, nếu bệnh ở bên trái thì nguyên nhân ở bên phải, cho nên phải chọn huyệt bên ngược lại để tiêu trừ nguyên nhân bệnh, từ đó đạt đến mục đích điều hòa âm dương.

          Khi vận dụng Cự thích pháp để chọn huyệt, nói chung có thể chọn huyệt vị đối bên song song với bộ vị bệnh biến, ví dụ như chi trên bên trái bệnh, có thể chọn huyệt chi trên bên phải để thích cứu. Còn có thể chọn huyệt vị đối bên không song song với bộ bị bệnh biến, như đau đầu bên trái có thể chọn huyệt chi dưới bên phải để thích cứu, hình thành phương pháp kết hợp giữa Cự pháp và Hạ pháp.

  1. MÂU PHÁP

Mâu pháp là Mâu Thích pháp. Với đặc điểm bệnh trái chọn phải, bệnh phải chọn trái, chọn huyệt trên Lạc Mạch. Nguyên nhân bệnh chứng thích hợp dùng cho mâu pháp, dựa theo “Tố Vấn - Mâu Thích Luận” rằng “Nay tà đến chiếm ở lông da, vào tá túc nơi Tôn Lạc, ở lại không đi, làm bế tắc không thông, không vào được kinh mạch chảy đầy nơi Đại Lạc, mà sinh bệnh lạ. Phàm tà đóng chiếm ở Đại Lạc, từ bên trái rót vào bên phải, từ bên phải rót vào bên trái”. Do bởi sự phân bố của Lạc mạch liên lạc rộng rãi, cho nên xuất hiện tà vào bên phải rót vào bên trái, bệnh tình tuy biểu hiện ở bên phải, mà tà đã tiến vào bên trái, ngược lại cũng vậy. Bởi vậy thấy bệnh ở bên trái mà châm huyệt lạc mạch bên phải, thấy bệnh bên phải mà châm huyệt lạc mạch bên trái, để đạt đến mục đích tả tà mà yên chính khí.

Đang lúc tà đình lưu ở 15 lạc mà chưa vào đến kinh mạch và Du huyệt, chỉ cần châm trên lạc mạch. Chọn huyệt trên lạc mạch có 2 yêu cầu:

1. Chọn lạc mạch có thể châm trên huyệt vị xa ở chi thể hoặc huyệt vị lân cận đó.

2. Quan sát cẩn thận lạc mạnh trên da dẻ. Nói chung bộ vị châm là nơi lạc mạch tương đối sung thịnh, chỉ cần tương đối sung thịnh hơn, bất kể nhiều ít đều có thể châm, hoặc khảy ra máu.

Tóm lại chọn Mâu Thích Pháp châm lạc mạch vẫn không tách rời đường đi kinh lạc và vị trí huyệt vị. Như “Tố vấn - Mâu Thích Luận” rằng: “Tà khách chiếm đóng ở lạc của Túc Thái Âm làm cho người ta đau lưng lan sang hông bụng, không thể nằm ngửa thở được, châm Yêu Du để giải, phía trên 2 quả thận là Yêu Du, lấy sự sống chết của mặt trăng làm vết tích, châm kim khỏi ngay. Trái châm phải, phải châm trái”. Bản thân huyệt Yêu du không phân biệt trái phải, nhưng châm lạc mạch trong phép Mâu Thích thì có thể chia lạc bên trái lạc bên phải. Từ đây ta có thể thấy rằng quan hệ giữa lạc mạch và huyệt vị.

Mâu pháp và Cự pháp tuy rằng đều thuộc phép chọn huyệt bên phải chọn trái, bên trái chọn phải, nhưng cơ chế bệnh tình, khái niệm bệnh tà, sự khác biệt chọn huyệt và chọn lạc cho đến thủ pháp châm thích đều có khác nhau, cần phải phân biệt sử dụng.

  1. KHAI PHÁP

Khai pháp là phép chọn huyệt được sử dụng nằm khai thông trở trệ. Thường được chọn huyệt đối chứng lâm thời khi cấp chứng. Bệnh tình như bế tắc Tâm khiếu, âm dương cự cách, bệnh chứng như thần chí hôn mê, cắn chặt hàm răng, ngất xỉu đột ngột, đau cấp tính, té ngã hôn mê, co giật, v.v…. Những loại bệnh chứng này tuy chỉ là một dạng biểu hiện trong quá trình phát triển của bệnh tình, có khi còn nguy ngập đến tính mạng, cho nên kịp thời ứng dụng tác dụng của phép này là không thể xem thường.

 Huyệt vị thường dùng có Bách Hội, Nhân Trung, Chi Câu, Giản Sử, Trường Cường, Bát Tà, Bát Phong, Thập Nhị Tỉnh huyệt, Thập Tuyên, 16 Khích huyệt. Căn cứ nguyên tắc “cấp tắc trị kỳ trên” (cấp chứng thì chữa ngọn của nó). Có thể trong điều trị trước tiên sử dụng những loại huyệt vị này, đợi sau khi bệnh tình nguy cấp đã chuyển hoãn rồi dùng phối phương thích hợp châm thích điều trị. Đôi khi cũng có thể ở trong phối phương trực tiếp chọn dùng những loại huyệt vị này.

Phương pháp chọn huyệt là một phép tắc chọn dùng huyệt vị chống đối bệnh tình, là một trong phương pháp quán triệt tư tưởng biện chứng luận trị Trung y, là phép chữa bổ sung và hoàn thiện trong phương diện chọn huyệt. Do bởi bản thân nó gồm giá trị sử dụng lâm sàng, cho nên lại gồm cả tính độc lập tương đối, đối với một số bệnh tật nào đó chỉ dựa vào phép này chọn dùng huyệt vị, hình thành phối huyệt hoặc phối phương để điều trị nên có thể đạt được hiệu quả điều trị. Song, phép chọn huyệt này vẫn chỉ là một phép tắc chọn huyệt tương đối cụ thể hơn, mà phép chữa mới là tư tưởng chỉ đạo của chọn huyệt phối phương, cho nên phép chọn huyệt lại chịu sự chỉ đạo và ước thúc của phép chữa. Ví như Thượng pháp thường quy thuộc Bổ pháp; Hạ pháp thường quy thuộc Tả pháp hoặc Thanh pháp; Dẫn pháp thường quy thuộc Hợp pháp; Cự pháp và Mâu pháp thường quy thuộc Bổ pháp, Tả pháp, Hợp pháp v.v…           Phép chữa và phép chọn huyệt đối với sự chỉ đạo trong chọn huyệt và phối phương tuy nhìn chung có hơi tương tự, nhưng giá trị chỉ đạo lâm sàng không giống nhau cũng có thể nói là thứ tự không giống nhau. Giá trị chỉ đạo của phép chữa cao hơn phép chọn huyệt, giá trị thực dụng của phép chọn huyệt lại cao hơn phép chữa. Cả hai không thể tách rời, vận dụng thỏa đáng, mới có lợi cho việc đem lý luận châm cứu vận dụng đến thực tiễn lâm sàng mới có lợi cho việc đem kinh nghiệm lâm sàng trở thành lý luận.

III. PHƯƠNG PHÁP HỢP PHƯƠNG

Phối phương châm cứu tuy đã rất sớm có ghi nhận trong y thư đời xưa, đồng thời cũng đã sớm vận dụng ở lâm sàng, nhưng sự phát triển của nó vẫn chưa chung kết, đối diện với hàng ngàn phối phương, để tìm ra phép hợp phương, lần mò ra các dạng yếu tố căn bản của hợp phương, không những có lợi cho hiểu rõ phối phương và nhận thức của chúng ta, mà còn có lợi cho việc sáng tạo phối phương mới và phát triển phối phương trong phương huyệt của ngành châm cứu học.

  1. NGUYÊN TẮC PHỐI HUYỆT

Phương pháp phối huyệt là phương pháp căn bản nhất đem hai hoặc trên hai huyệt vị theo quy luật nhất định, yêu cầu nhất định để tiến hành tổ hợp phối ngũ. Phối huyệt là đơn vị nhỏ nhất hoặc tổ hợp cơ bản nhất của phối phương. Trong khi phối ngũ có thể dựa vào công dụng và sở trường của huyệt vị, kinh mạch sở thuộc và vị trí của huyệt vị, đem huyệt vị tổ hợp lại một cách hữu hiệu nhất, để hình thành chủ thể của phối phương.

Huyệt vị sau khi phối ngũ tác dụng của nó mạnh hơn nhiều so với tác dụng của cá biệt huyệt vị ấy. Do đó, phương pháp phối huyệt chiếm vị trí quan trọng trong phối phương châm cứu. Xưa nay, phương pháp phối huyệt rất nhiều, nay đem 6 phương pháp thường dùng giới thiệu sơ lược như sau:

1.1. Phép phối huyệt trước sau:

“Trước” tức là bộ vị ngực bụng, “sau” tức là bộ vị lưng, thắt lưng. Phối huyệt trước sau là nói chọn dùng Du huyệt ở phía trước phía sau để tiến hành phối ngũ. Bởi vì trước thuộc dương, sau thuộc âm, vùng thân thể là tạng phủ sở chủ, do đó phương pháp phối huyệt này có 2 đặc điểm điều trị lớn: Một là lấy điều trị bệnh tật tạng phủ làm chủ. Hai là lấy điều chỉnh khí cơ âm dương làm chủ. Trong phép chữa có thể quy nạp vào Hợp pháp, trong phép chọn huyệt có thể quy nạp vào Dẫn pháp, có thể xưng là Âm dương song dẫn. Phép phối huyệt Du Mộ thường dùng tức là thuộc phép này.

Khi sử dụng phép chọn huyệt này, cũng có chia ra chủ thứ, như bệnh tạng phủ sử dụng phép này thì lấy Du huyệt làm chủ, lấy Mộ huyệt làm huyệt phối (phụ). Khi sử dụng phép này điều trị bệnh phủ thì lấy Mộ huyệt làm chủ, lấy Du huyệt làm huyệt phối; Mộ huyệt-các kinh huyệt khác cũng có thể chọn dùng, như đau dạ dày ợ chua, ở phía trước có thể chọn Lương Môn, ở phía sau có thể chọn Vị thương.

1.2. Phép phối huyệt trên dưới

Là phương pháp phối ngũ chọn dùng huyệt vị vùng trên với huyệt vị vùng dưới. Bởi dương khí tụ tập ở trên, âm khí tụ tập ở dưới, dương khí giáng xuống hóa thành âm, âm khí thăng lên hóa thành dương, cho nên phép phối huyệt loại này đối với điều hòa thăng giáng khí có thể gây được tác dụng lớn hơn. Trong phép chữa Hợp pháp, Bổ pháp, Tả pháp; trong phép chọn huyệt Bát mạch giao hội tức là thuộc phép này.

Khi sử dụng phép chọn huyệt này, cũng có chia ra chủ thứ, như khi chọn huyệt Nội quan điều trị bệnh tật, phối hợp sử dụng huyệt Công tôn bèn có thể tăng cường tác dụng điều trị của Nội quan. Ngược lại, khi chọn dùng huyệt Công Tôn điều trị bệnh tật cũng có thể phối hợp Nội quan để tăng cường tác dụng điều trị. Phép chọn huyệt trên dưới cũng không chỉ giới hạn huyệt Bát mạch giao hội, các huyệt khác cũng có thể áp dụng. Như Can phong đầu thống, có thể trên chọn Phong Trì, dưới chọn Thái Xung để phối ngũ điều trị. Đau răng có thể trên chọn Giáp Xa, dưới chọn Hợp Cốc để phối hợp điều trị. Đau dạ dày có thể trên chọn Nội Quan dưới chọn Túc Tam Lý để phối hợp điều trị.

1.3. Phép phối huyệt trái phải

Là phương pháp phối huyệt giữa huyệt vị bên trái với huyệt vị bên phải. Bởi vì bên trái là dương, bên phải là âm, quân bình và điều hòa trái phải âm dương đều có ảnh hưởng tương đối lớn hơn đối với sự thăng giáng của khí cơ, sự vận hành của khí huyết toàn thân.

Tác dụng của sự phối huyệt trái phải, chính là làm cho âm dương trái phải đạt đến mức quân bình tương đối, trong phép chữa thuộc Hợp pháp, Thông pháp, trong phép chọn huyệt thuộc Mậu pháp, Cự pháp.

Khi sử dụng phép chọn huyệt này, cũng có chia ra chủ thứ. Ví như bệnh ở bên trái, châm bên phải, nên lấy huyệt vị bên phải làm huyệt vị chủ yếu, lấy huyệt vị bên trái bệnh là huyệt phụ, ngược lại cũng vậy. Như điều trị liệt mặt thường lấy huyệt vị bên bệnh làm huyệt chính, đồng thời phối hợp dùng huyệt bên mạnh một cách thích đáng, luôn luôn có thể giành được hiệu quả điều trị tốt hơn. Đây là bởi vì sau khi bên bệnh liệt mềm thời gian tương đối dài, bên mạnh rất dễ ở trạng thái khẩn trương (căng thẳng) co rút, thiên thịnh thiên suy của âm dương trái phải tương đối rõ rệt hơn, sau khi sử dụng phép này, có thể  bổ hư tả thực, làm cho âm dương trái phải khôi phục quân bình, do đó có thể thu được hiệu quả điều trị rõ rệt.

Hai bên (trái phải) chọn huyệt cùng tên, cũng thuộc phép phối huyệt trái phải. Như điều trị đau bụng thường chọn Túc Tam Lý, hai bên bởi Túc Tam Lý bên trái phải tuy là huyệt cùng tên, tổng công năng chủ trị giống nhau, nhưng vì có chia ra trái phải, thì cái lý âm dương thăng giáng không hẳn giống nhau, do đó phối hợp lẫn nhau sẽ được bổ ích.

1.4. Phép phối huyệt xa gần

Gần là chỉ về huyệt vị tương đối gần chỗ bệnh, xa là chỉ về huyệt vị tương đối xa chỗ bệnh. Cả hai lấy mối tương quan kinh lạc lẫn nhau hoặc liên hệ lẫn nhau. Bởi vì kinh lạc vận hành khí huyết, kinh lạc thông sướng thì bệnh tình chuyển lành, đồng thời kinh lạc vận hành khí huyết có tính xu bệnh (hướng về vùng bệnh), có khả năng chủ động đưa khí huyết đến chỗ bệnh biến, do đó sau khi áp dụng phép phối huyệt này, càng có mục đích điều trị rõ ràng đối với vùng bệnh biến. Phép này trong phép chữa thuộc Thông pháp, Bổ pháp, Tả pháp, Tiêu pháp. Trong phép chọn huyệt thuộc Thượng pháp, Hạ pháp, Cự pháp.

Khi sử dụng phép chọn huyệt này, cũng có phân biệt chủ thứ. Nói chung, bệnh biến tứ chi và vùng đầu, chọn huyệt vùng gần làm huyệt chính, huyệt ở vùng xa làm huyệt phụ. Bệnh biến vùng tứ chi thường ở chỗ cơ nhục (bắp), gân mạc (gân màn). Theo nguyên tắc “Dĩ thống vi thâu” (lấy đau làm chỗ vận chuyển). Trong “Linh Khu - Kinh Cân” đã nói, trước hết chọn huyệt cục bộ, có lợi cho giải trừ chứng trạng cục bộ, đả thông sự trở trệ cục bộ. Như đau nhức khớp vai chọn Kiên ngung, Dưỡng Lão, trước châm Kiên ngung, sau khi dùng kim hoạt động châm kim vừa phải rồi châm Dưỡng Lão, vừa tiện cho lưu kim châm thích, lại vừa đạt kết quả điều trị tương đối tốt hơn.

Bệnh biến vùng ngực bụng (đặc biệt là nội tạng) luôn luôn có sung huyết, ứ nước, ứ dịch, sưng to, nhu động bên trong, trước hết châm thích huyệt vùng xa có thể cải thiện bệnh tình một cách thích đáng, làm cho khi châm thích vùng gần giảm bớt cái lo nhìn sau, khi châm thích tương đối chủ động hơn. Ví dụ, đau bụng chọn Túc Tam Lý, Thiên Khu thì trước châm Túc Tam Lý, chờ sau khi cơn đau hoãn bớt rồi châm Thiên Khu, nhằm thu toàn công.

1.5. Phép phối huyệt Biểu Lý

Biểu là chỉ kinh dương, Lý là chủ kinh âm, phép này nhằm chọn huyệt phối hợp trên kinh âm dương (lấy kinh biểu lý làm chính). Phép phối huyệt này có khả năng điều chỉnh kinh khí kinh âm dương, hơn nữa là điều chỉnh khí cơ tạng phủ âm dương.

 Trong phép chữa, phép này thuộc Hợp pháp, Thông pháp. Trong phép chọn huyệt thuộc Dẫn pháp, Cự pháp. Phép phối huyệt Nguyên Lạc lại xưng là phép phối huyệt Chủ Khách, cho thấy rằng cũng có sự phân biệt chủ thứ. Như bệnh ở kinh phế chọn Thủ Thái Âm Nguyên huyệt Thái Uyên làm huyệt chính, Thủ Thái Âm Lạc huyệt Liệt Khuyết làm huyệt phụ. Nhưng, phép phối huyệt biểu lý không những giới hạn trong phép phối huyệt Nguyên Lạc, cũng có thể chọn dùng các huyệt phối huyệt khác, trong "Linh Khu- Ngũ Tà" đã nói: "Tà ở thận thì bệnh nhức xương tê đau (âm tý). Tê đau đè vào không chịu được, bụng trướng, đau lưng, đại tiện khó, vai lưng cổ gáy đau, xây xẩm luôn. Chọn Dũng Tuyền, Côn Lôn" Trong đó Dũng Tuyền là Tỉnh huyệt, Côn lôn là Kinh huyệt, đây là phối hợp Tỉnh huyệt-Kinh huyệt của kinh âm dương.

  1. Phép phối huyệt Trong Ngoài

Trong là huyệt vị mặt trong, ngoài là huyệt vị mặt ngoài. Bởi vì ngoài là dương, trong là âm, do đó phép phối huyệt này là phương pháp nhằm điều chỉnh trong ngoài âm dương làm chủ. Phép này trong phép chữa thuộc Hợp pháp, Thông pháp, Bổ pháp, Tả pháp. Trong phép chọn huyệt thuộc Dẫn pháp, Khai pháp.

Khi sử dụng phép chọn huyệt này, cũng có phân biệt chủ thứ. Nếu kinh dương bệnh thì chọn dùng huyệt mặt ngoài làm huyệt chính, lấy huyệt mặt trong làm huyệt phụ. Ngược lại, kinh âm bệnh chọn dùng huyệt mặt trong làm huyệt chính, lấy huyệt mặt ngoài làm huyệt phụ. Như bàn chân lệch lật trong,chọn huyệt Thân Mạch kinh Túc Thái Dương làm huyệt chính, lấy Chiếu Hải kinh Túc Thiếu Âm làm huyệt phụ; chân lệch lật ngoài, lấy huyệt Chiếu Hải làm huyệt chính, lấy huyệt Thân Mạch làm huyệt phụ.

Ngoài ra, các cặp Âm Lăng Tuyền – Dương Lăng Tuyền, Nội Quan – Ngoại Quan, Tam Âm Giao – Túc Tam Lý, Giản Sử – Chi Câu, Huyết Hải – Lương Khâu, … tất cả đều quy thuộc phép phối huyệt trong ngoài. Sau khi phối huyệt như vậy, hiệu quả điều trị rõ rệt hơn so với chọn huyệt một bên.

  1. NGUYÊN TẮC LẬP PHƯƠNG

Sau khi phối phương đã có kết cấu cơ bản phối huyệt như vậy là đã có quy mô điều trị ban đầu. Nhưng vì thích ứng với bệnh tình phức tạp đa biến, tất nhiên còn phải thay đổi cho tương ứng, nhằm làm cho nó thật sự trở thành phối phương chủ trị rõ ràng chính xác, kết cấu hợp lý. Sự thành lập phối phương châm cứu, chủ yếu chia ra hai phần chính: một là tổ hợp huyệt vị, hai là tổ hợp của phép châm thích.

Huyệt vị trong phối phương châm cứu lại do hai bộ phận huyệt chính và huyệt phụ hợp thành. Nguyên tắc lập phương của huyệt vị như trong “Tố Vấn – Chí Châm Yếu Đại Luận” viết: “Chủ bệnh gọi là Quân, Tá (trợ) Quân gọi là Thần, ứng với Thần gọi là Sứ” đã đề xuất bốn khái niệm về Quân, Thần, Tá, Sứ. Tuy nhiên những nguyên tắc này trong dược liệu phối phương thời gian sử dụng lâu dài hơn, điêu luyện hơn. Song, tư tưởng này vẫn có thể vận dụng trong phối phương châm cứu, do đó nó vẫn là nguyên tắc lập phương của huyệt vị. Bởi do tính đặc thù về điều trị của huyệt vị và phối huyệt của nó, có thể đem phối phương châm cứu phân giải thành chủ huyệt (chính), phối huyệt chủ huyệt, phối huyệt bệnh cơ, phối huyệt tòng (theo) chứng và phối huyệt đặc thù.

2.1. Chủ huyệt

Chủ huyệt là huyệt có tác dụng chủ đạo trong phối phương, nó được chọn dùng để chống đối chứng bệnh. Chủ chứng (triệu chứng) hoặc chủ bệnh quyết định phương hướng điều trị, mục đích điều trị và thủ pháp điều trị của phối phương là khâu ko thể thiếu trong phối phương.

Nếu phong hàn phạm biểu chọn Đại Chùy làm chủ huyệt, đó là lấy ôn thông dương khí giải trừ biểu tà làm phương hướng điều trị chủ yếu; lấy giải trừ ố hàn đầu thống, cổ gáy cứng đờ làm mục đích điều trị; lấy phép tả trong châm thích làm thủ pháp điều trị.

Nếu phong hàn phạm biểu chọn Phong Môn làm chủ huyệt thì lấy khu phong tán hàn, giải trừ biểu tà làm phương hướng điều trị; lấy giải trừ ố hàn phát nhiệt, thân thể đau nhức làm mục đích điều trị; lấy phép tả trong châm thích làm thủ pháp điều trị.

2.2. Phối huyệt chủ huyệt

Nó là huyệt vị được chọn dùng tăng cường tác dụng điều trị chủ yếu của chủ huyệt. Nó với chủ huyệt hợp thành phối huyệt như trên đã nói. Nhưng nó vẫn khác với yêu cầu chọn huyệt của phép phối huyệt nói chung, lấy phép phối huyệt xa gần làm ví dụ: như Phúc thống chọn dùng Túc Tam Lý làm chủ huyệt. Đó là phối huyệt chủ huyệt, khi đau bụng trên chọn Trung quản; khi đau quanh rốn chọn Tề Trung hoặc Thiên Khu; khi đau bụng dưới chọn Quan Nguyên.

2.3. Phối huyệt bệnh cơ

Là căn cứ bệnh cơ của tật bệnh chọn dùng huyệt vị. Do bởi đặc điểm biện chứng của Đông y, biện chứng luôn luôn giống với nội dung bệnh cơ, do đó trong lúc lấy chủ chứng chọn chủ huyệt, phối huyệt bệnh cơ giống với chủ huyệt, như nếu khi lấy chủ chứng (triệu chứng) hoặc chủ bệnh chọn chủ huyệt thì nên dùng thêm phối huyệt bệnh cơ, như đau đầu xây xẩm chọn huyệt Bách Hội làm chủ huyệt, nếu xây xẩm mặt mày bởi khí hư dẫn đến có thể chọn phụ thêm Khí Hải; nếu do âm hỏa thượng xung thì chọn phụ thêm Thái Xung, nếu do đàm trệ thì có thể chọn phụ thêm Phong Long; nếu do âm hư thì có thể chọn phụ thêm Thái Khê.

2.4. Phối huyệt tòng chứng

Nó là huyệt vị chọn dùng dựa trên kèm chứng và kèm bệnh, gồm 2 mặt:

  • Chọn huyệt theo kinh

Như ngoại cảm phong hàn kèm có đau đầu có thể chọn Đại Chùy làm chủ huyệt, đau đầu thuộc kinh Thái Dương có thể chọn huyệt phụ là huyệt Thái Dương, đau đầu thuộc kinh Dương Minh có thể chọn huyệt phụ là Ấn Đường, đau đầu thuộc kinh Thiếu Dương có thể chọn huyệt phụ là Suất Cốc; nếu khi ngoại cảm kèm có ho suyễn, nếu do phế khí ko tuyên thông có thể chọn huyệt phụ là Thái Uyên; thuộc phủ khí ko thông có thể chọn huyệt phụ là Hợp Cốc; thuộc thận ko nạp khí có thể chọn huyệt phụ là Thái Khê.

  • Chọn huyệt đối chứng

Nếu ngoại cảm phong hàn kèm có tiêu chảy có thể chọn huyệt phụ là Thiên Khu, kèm có ói mửa có thể chọn huyệt phụ là Nội Quan.

2.5. Phối huyệt đặc thù

Nó là huyệt vị chọn dùng dựa trên thuộc tính và công dụng đặc thù của huyệt vị, cũng gồm hai mặt:

  • Sử dụng huyệt đặc định

Có thể chọn dùng huyệt vị căn cứ theo thuộc tính ngũ hành của Ngũ Du huyệt, như ho suyễn có thể chọn huyệt trên kinh thủ Thái Âm Phế, nếu kinh Phế có hàn có thể chọn dùng Thủy huyệt Xích Trạch; nếu kinh Phế có nhiệt có thể chọn dùng Hỏa huyệt Ngư Tế; nếu kinh Phế có nhiệt, có thấp có thể chọn dùng Thổ huyệt Thái Uyên. Còn có thể căn cứ đặc điểm của Bát Hội huyệt để chọn, nếu khí hư chọ Khí hội Đản Trung, gân yếu chọn Cân hội Dương Lăng Tuyền.

  • Sử dụng huyệt đặc thù

Như huyệt Lan Vĩ chữa viêm đau ruột, huyệt Giản Sử chữa sốt rét.

Năm loại huyệt trên đây, trong đó gồm cả quy luật của Quân, Thần, Tá, Sứ nhưng ngoại trừ chủ huyệt thuộc Quân; quan hệ Quân, Thần, Tá, Sứ của các loại huyệt khác ắt phải phân tích theo quan hệ giữa các huyệt vị, do bởi huyệt vị phối phương nhiều ít khác nhau, do đó không nhất định là mỗi chức một huyệt, hoặc mỗi huyệt một chức, rất có khả năng xuất hiện nhiều huyệt một chức, hoặc một huyệt nhiều chức.

Ngoài ra, cũng ko hẳn là mỗi một phối phương đều gồm đủ tất cả 5 loại huyệt, ngoài chủ huyệt ko thể thiếu ra, thì hễ là huyệt phối (phụ) có thể nhiều, có thể ít. Tuy rằng như vậy, địa vị của huyệt có Quân, Thần, Tá, Sứ trong phối phương thì ko cho phép đảo lộn, nếu ko thì sẽ thay đổi phương hướng chủ trị và khả năng điều trị của phối phương./.

  • Tôn chỉ hành nghề:

“ SÁNG VỀ Y ĐỨC – SÂU VỀ Y LÝ – GIỎI VỀ Y THUẬT ”

 

 

 

Đánh giá:

 

                   

5/5 (21 bình chọn)

Thời gian mở cửa: 7h00 - 19h00 hàng ngày. Nghỉ các ngày Lễ, Tết.

(Vui lòng liên hệ hẹn lịch trước khi đến khám chữa bệnh)

098 979 1982 - 091 868 1982 - 0227 6282 135   

► Buổi sáng: Từ 07h00 - 11h00:  PHÒNG KHÁM ĐÔNG Y THÁI BÌNH

Địa chỉ: Bệnh xá Bộ Chỉ Huy Quân Sự tỉnh - Đường Nguyễn Đức Cảnh - P. Hoàng Diệu - TP. Thái Bình

( Cách CÔNG VIÊN NƯỚC khoảng 500m, cạnh NHÀ VĂN HÓA LAO ĐỘNG TỈNH THÁI BÌNH )

► Buổi chiều: Từ 13h00 - 19h00:  PHÒNG KHÁM ĐÔNG Y PHẠM THANH TUẤN

Địa chỉ: Căn 117 Tầng 1 Tòa 1B - KĐT Petro Thăng Long - P. Quang Trung - TP. Thái Bình

( Đối diện cổng TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THÁI BÌNH đi vào 100m )

Nội dung trên trang website có tác dụng tham khảo, 

không sử dụng các thông tin này để chữa bệnh khi chưa có ý kiến của thầy thuốc.

 

Thiết kế bởi donet.vn

 

Đang xử lý...