Tel:   0989 791982 Hotline: 0989 791982 - 0918 681982 Email: tuan6282@gmail.com

XOA BÓP BẤM HUYỆT

07:11:00 26/11/2015

ĐẠI CƯƠNG VỀ XOA BÓP

 

1. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ XOA BÓP TRÊN THẾ GIỚI:

               - Ở Ai cập, trên các bức tranh khắc trên đá, cách đây 5.000 năm, đã ghi lại hình những người đang xoa bóp.

               - Hipôcrat (Người Hy lạp), y tổ phương Tây, đã khuyên dạy môn đồ dùng xoa bóp để chữa cứng khớp.

               - Ở La mã, từ thời Cổ đại, xoa bóp được coi là môn bổ trợ sau khi tắm.

               - Ở Ấn độ, gọi xoa bóp là Schamvahna (Săm-va-na ), xoa bóp luôn được thực hiện trong các buổi lễ tôn giáo, và sau buổi tập thở, tập Yoga.

               - Ở Trung quốc, xoa bóp đã có một lịch sử rất lâu đời; trong quyển Nội kinh Tố vấn, thiên “Dị pháp” (Chương 12) đã đề ra những phép xoa bóp và ngày càng phát triển.

               - Ở các nước Châu âu, vào thế kỷ thứ 17, tại trường Đại học Y khoa , người ta đã tìm thấy nhiều luận án đề cập đến lợi ích của xoa bóp.

               - Các nước Anh, Đức, Mỹ….môn xoa bóp cũng được phổ biến rộng rãi, đặc biệt là trong giới thể dục, thể thao.

2. DANH Y CỔ TRUYỀN Ở NƯỚC TA ĐÃ ĐỀ CẬP ĐẾN NHỮNG PHƯƠNG PHÁP CHỮA BỆNH BẰNG XOA BÓP.

♠ Tuệ Tĩnh: Vào thế kỷ thứ 14 đã tổng kết những kinh nghiệm xoa bóp thời bấy giờ để chữa một số bệnh (Sách Nam dược thần hiệu)

                  Thí dụ:  Xoa với bột gạo tẻ để trị chứng ra nhiều mồ hôi.

                               Xoa với bột hoạt thạch và bột đậu xanh để trị rôm sảy.

                               Xoa với hạt cải ngâm dấm để chữa da thịt tê dại.

                               Xoa với hạt cải ngâm rượu để điều trị đau lưng.

                               Xoa với rượu ngâm quế điều trị bại liệt.

♠ Nguyễn Trực: Thế kỷ thứ 15, trong cuốn “Bảo anh lương phương” (Chữa bệnh cho trẻ em) đã đúc kết nhiều kinh nghiệm xoa bóp với các thủ thuật xoa, bấm, miết, vận động, kéo giãn...tác động lên kinh lạc, huyệt để điều trị các chứng đau bụng, ỉa chảy, lòi dom, tích trệ….

♠ Đào Công Chính: Thế kỷ 18, trong cuốn “Bảo sinh diên thọ toản yếu” đã tổng kết các phương pháp tự tập luyện, tự xoa bóp để phòng và trị bệnh.

♠ Hải Thượng Lãn Ông: Thế kỷ 18, đã nhắc lại các phương pháp trị liệu bằng xoa bóp để phòng và trị bệnh trong cuốn “Vệ sinh yếu quyết”.

3. ĐỊNH NGHĨA XOA BÓP:

        “Xoa bóp dân tộc là một phương pháp phòng bệnh và chữa bệnh đối với sự chỉ đạo của lý luận y học dân tộc cổ truyền. Đặc điểm của nó là dùng bàn tay, ngón tay là chính để tác động lên huyệt vị, bì mao, cơ nhục, cân khớp của người bệnh nhằm đạt tới mục đích phòng bệnh và chữa bệnh. Ưu điểm là giản tiện, rẻ tiền, có hiệu quả, có phạm vi chữa bệnh rộng, có giá trị phòng bệnh lớn.

Giản tiện: vì chỉ dùng bàn tay để phòng bệnh và chữa bệnh. Do đó, có thể dùng trong bất kỳ hoàn cảnh nào và không bị lệ thuộc vào phương tiện khác.

Có hiệu quả: vì có tác dụng phòng bệnh và chữa bệnh nhất định. Có khả năng chữa một số chứng bệnh cấp tính và nhiều khi đạt kết quả nhanh chóng, dùng xoa bóp để chữa một số bệnh mạn tính đảm bảo an toàn, làm xong nhẹ người, triệu chứng bệnh giảm.

Có giá trị phòng bệnh: Tự xoa bóp là để giữ gìn sức khỏe tốt và rất chủ động.

4. NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ XOA BÓP

Xoa bóp là phương pháp phòng bệnh và chữa bệnh như các phương pháp khác (dùng thuốc, châm cứu, phẫu thuật, thể dục, khí công,...) cho nên:

* Có những chứng bệnh có thể dùng xoa bóp để chữa như: Vẹo cổ, khớp hoạt động bị hạn chế, di chứng bại liệt trẻ em, di chứng liệt sau TBMMN, bệnh phong tê thấp, đau lưng, mệt mỏi, tiêu hóa kém, suy nhược thần kinh, cảm sốt,...

* Có những chứng bệnh có thể phối hợp xoa bóp với các phương pháp khác, xoa bóp ở vị trí thứ yếu như trong một số bệnh cấp tính: sốt cao hay đợt cấp của các bệnh nội tạng…ở đây xoa bóp có tác dụng làm giảm nhẹ triệu chứng.

5. NHỮNG ĐIỀU CHÚ Ý KHI CHỮA BỆNH BẰNG XOA BÓP

• Cần làm cho người bệnh tin tưởng vào phương pháp để người bệnh phối hợp tốt với thầy thuốc và phát huy sự nỗ lực chủ động trong quá trình đấu tranh với bệnh tật. Do đó, cần chú ý giải thích rõ nguyên nhân bệnh, chỉ dẫn người bệnh những điều cần chú ý và phương pháp tập luyện ở nhà.

• Cần có chẩn đoán rõ rang rồi mới tiến hành xoa bóp. Không làm xoa bóp khi người bệnh quá đói, quá no. Trước khi làm thủ thuật nên để người bệnh ngồi nghỉ thoải mái 10 – 15 phút.

• Chú ý thủ thuật nặng hay nhẹ phải phù hợp với người bệnh, ví dụ: đau thuộc thực chứng làm mạnh, đau thuộc hư chứng làm nhẹ và từ từ; lần đầu làm nhẹ, bắt đầu và kết thúc làm nhẹ; làm ở nơi đau phải chú ý sức chịu đựng của người bệnh không làm quá mạnh.

• Sau một lần xoa bóp, hôm sau người bệnh thấy mệt mỏi là đã quá mạnh, lần sau cần giảm nhẹ.

• Khi xoa bóp thầy thuốc phải theo dõi người bệnh; thái độ phải hoà nhã, nghiêm túc. Đối với người bệnh mới, nhất là nữ giới cần nói rõ cách làm để họ yên tâm phối hợp chặt chẽ với thầy thuốc và tránh những hiểu lầm đáng tiếc.

6. ĐỢT CHỮA BỆNH VÀ THỜI GIAN MỘT LẦN XOA BÓP

♠ Đợt chữa bệnh:

  • Để tránh hiện tượng nghiện xoa bóp và phát huy tác dụng, mỗi đợt chữa bệnh thường từ 10 đến 15 lần là vừa.
  • Với chứng bệnh cấp tính mỗi ngày có thể làm một lần.
  • Với chứng bệnh mạn tính thường cách 1 ngày làm 1 lần hoặc 1 tuần làm 2 lần.

♠ Thời gian 1 lần xoa bóp:

  • Nếu xoa bóp toàn thân thường từ 45 – 60 phút.
  • Nếu xoa bóp bộ phận của cơ thể thường từ 10 – 15 phút.

7. CÁC THỦ THUẬT XOA BÓP CƠ BẢN

( Xát, Xoa, Miết, Phân, Hợp, Véo đẩy, Phát; Day, Đấm, Chặt, Lăn, Bóp, Vờn; Vận động; Ấn, Điểm, Bấm,... )

  • Yêu cầu và cách bổ tả của thủ thuật

- Yêu cầu của thủ thuật là: thủ thuật phải dịu dàng, song tác dụng thấu sâu vào da, cơ, huyệt; làm được lâu và có lực.

- Cách bổ tả của thủ thuật:

+ Bổ: làm nhẹ nhàng, chậm rãi, thuận đường kinh.

+ Tả: làm mạnh, nhanh, ngược đường kinh.

CÁC THỦ THUẬT XOA BÓP

1. XÁT:

MÔ TẢ: Dùng lòng bàn tay hay gốc bàn tay, mô ngón tay út hoặc mô ngón tay cái, di động trên da theo hướng thẳng, đi lên, đi xuống hoặc sang phải, sang trái; tay của thầy thuốc di chuyển lướt nhẹ trên da người bệnh.

 “Thủ thuật Xát” thường được áp dụng khi bắt đầu tiến hành xoa bóp và dùng dầu, hoặc bột talc để làm trơn da.

TÁC DỤNG: Thông kinh hoạt lạc, lý khí tiêu sưng, khu phong tán hàn.

2. XOA:

MÔ TẢ: Dùng lòng bàn tay hay gốc bàn tay, mô ngón tay út hoặc mô ngón tay cái, hoặc vân ngón tay di động theo vòng tròn trên da chỗ đau. Tay của thầy thuốc di chuyển lướt nhẹ trên da người bệnh. Đây là thủ thuật mềm mại hay dùng ở nơi sưng đỏ và ở bụng, lưng. 

“Thủ thuật Xoa” thường được áp dụng khi bắt đầu tiến hành xoa bóp.

  • TÁC DỤNG: Lý khí hòa trung (Tăng cường tiêu hóa), thông khí huyết, giảm đau, giảm sưng, khu phong, tán hàn.

3. MIẾT:

MÔ TẢ: Dùng vân ngón tay (Ngón cái hoặc nhiều ngón), hoặc gốc bàn tay, hoặc cạnh bàn tay, ấn chặt vào da người bệnh rồi di động ngón tay theo hướng lên hoặc xuống hoặc sang phải, sang trái; tay của thầy thuốc di động đồng thời dùng sức đè xuống làm căng da của người bệnh. 

“Thủ thuật Miết” thường được áp dụng ở đầu, trán, lưng bụng, dọc 2 bên cột sống (Huyệt Giáp tích), khe xương, khe cơ, dọc theo xương dài.

  • TÁC DỤNG:     

- “Thủ thuật Miết” dùng ở đầu: Có tác dụng Khai khiếu tỉnh thần, Bình Can giáng hỏa, làm sáng mắt.

- “Thủ thuật Miết” dùng ở bụng: Có tác dụng Kiện tỳ.

4. PHÂN:

MÔ TẢ: Dùng vân các ngón tay (Hoặc mô ngón út, hoặc gốc bàn tay) của 2 tay, đặt cùng một chỗ chính giữa (Thí dụ: giữa trán, giữa lưng, giữa ngực…), rồi tẽ ra 2 bên theo hai hướng ngược chiều nhau.

- Tay có thể lướt trên da người bệnh, hay có thể ấn chặt, kéo căng da người bệnh.

- “Thủ thuật Phân” thường được áp dụng ở  trán, ngực, lưng, bụng.

  • TÁC DỤNG:

- “Thủ thuật Phân” dùng ở trán: Có tác dụng Bình Can giáng hỏa.

- “Thủ thuật Phân” dùng ở bụng, ngực, lưng: Có tác dụng Kiện tỳ, thư thái ngực, trợ chính khí. 

 5. HỢP:

MÔ TẢ: Giống như động tác “Phân”, nhưng tay thầy thuốc ở 2 bên đối nhau, rồi di chuyển ngược chiều nhau đến cùng một chỗ chính giữa.

“Thủ thuật Hợp” thường được áp dụng ở  trán, ngực, lưng,  bụng.

TÁC DỤNG:

  - “Thủ thuật Hợp” dùng ở trán: Có tác dụng Bình Can giáng hỏa.

                                  - “Thủ thuật Hợp” dùng ở bụng, ngực, lưng: Có tác dụng Kiện tỳ, thư thái ngực, trợ chính khí.

6. VÉO (CUỘN):

MÔ TẢ: Dùng ngón tay cái với ngón trỏ, ngón giữa (Hoặc dùng đốt thứ hai của ngón cái với đốt thứ ba của các ngón trỏ, ngón giữa) kẹp da, kéo da lên và đẩy tới liên tiếp làm cho da người bệnh luôn luôn bị cuộn giữa các ngón tay thầy thuốc.

"Thủ thuật véo" thường được dùng ở lưng, trán. Có thể véo từng cái một, hoặc vừa véo vừa di động đẩy tới (Cuộn, cuốn)

  • TÁC DỤNG:  

Dùng ở trán: Thanh nhiệt – Khu phong – Tán hàn. Bình can giáng hỏa.

Dùng ở lưng: Nếu làm nhẹ: Nâng cao chính khí. Nếu làm mạnh: Khu phong – Tán hàn

7. PHÁT:

MÔ TẢ: Bàn tay hơi khum, giữa lòng bàn tay hơi lõm, vỗ lên da nơi bị bệnh từ nhẹ đến nặng. Khi phát, da bị đỏ đều do áp lực không khí trong bàn tay thay đổi.

"Thủ thuật phát" thường được dùng ở vai, lưng, tay, chân.

TÁC DỤNG: Thông kinh lạc, mềm cơ, giảm cảm giác nặng nề - mỏi cơ.  

 

8. DAY:

MÔ TẢ: Dùng gốc bàn tay (Hoặc mô ngón tay út, mô ngón tay cái, hoặc ngón tay cái), hơi dùng sức ấn xuống da, huyệt của người bệnh, rồi di động theo đường tròn. Tay của thầy thuốc và da của người bệnh dính vào nhau, da của người bệnh di động trên cơ, xương, theo tay thầy thuốc. Thường làm chậm, còn diện to hay nhỏ, sức dùng mạnh hay yếu là tùy tình hình bệnh và vị trí tác động.

  • TÁC DỤNG:

Đây là thủ thuật mềm mại, trực tiếp tác động lên cơ, huyệt, xương, làm giảm sưng, giảm đau, mềm cơ, khu phong. Hai thủ thuật xoa và day là hai thủ thuật chính trong việc chữa sưng tấy.                                    

9. ĐẤM:

MÔ TẢ: Nắm hờ các ngón tay và dùng mô ngón út đấm lên nơi bị bệnh; cường độ mạnh nhiều hay ít tùy vào lớp da dầy hay mỏng, song phải có tác dụng thấm sâu vào cơ, xương. Chú ý: Không đấm mạnh làm thốn, tức, gây đau, khó chịu.

TÁC DỤNG: Thông khí huyết, giảm đau, mềm cơ.

 

 

10. CHẶT:

 MÔ TẢ: Mở xòe bàn tay thẳng, dùng mô ngón tay út chặt liên tiếp vào nơi bị bệnh.  Nếu làm ở đầu, thì hai bàn tay chập lại, các ngón tay xòe ra, dùng ngón út vỗ vào  đầu người bệnh, ngón nầy sẽ đập vào ngón kia phát ra tiếng kêu...

 TÁC DỤNG: Thông khí huyết, giảm đau, mềm cơ.   

 

11. LĂN:

 MÔ TẢ: Dùng các khớp bàn – ngón tay, khớp ngón tay của các ngón út, ngón nhẫn,  ngón giữa; với một sức ép nhất định, vận động khớp cổ tay để lăn 3 khớp ngón tay lần  lượt

 trên bộ phận cần xoa bóp, vừa lăn vừa ấn trên da người bệnh. Thủ thuật “Lăn” thường  dùng ở mông, lưng và tứ chi.       

  • TÁC DỤNG: Khu phong – Tán hàn – Thông kinh lạc – Giảm đau

12. BÓP :

MÔ TẢ: Dùng ngón tay cái và các ngón tay kia ôm lấy khối cơ ở nơi bị bệnh rồi bóp bằng hai ngón tay, hoặc ba ngón tay, hoặc 4 ngón tay, hoặc 5 ngón tay. Vừa bóp vừa hơi kéo thịt lên, không để thịt hoặc gân trượt dưới tay vì sẽ gây đau.

Thủ thuật “Bóp” thường dùng ở tứ chi, vai, gáy, nách. Sức bóp nhẹ hay mạnh tùy khối cơ lớn hay nhỏ, rắn chắc hay mềm nhão.

  • TÁC DỤNG: Giải nhiệt – Khai khiếu – Khu phong – Tán hàn – Thông kinh lạc.

13. VỜN :

MÔ TẢ: Hai bàn tay hơi cong bao lấy một khối cơ, rồi chuyển động 2 tay ngược chiều nhau, kéo cả da thịt người bệnh chuyển động theo, khối thịt lay động giữa 2 bàn tay. Dùng sức vừa phải, vờn từ trên xuống, hoặc từ dưới lên giống như đẩy, lắc.

“Thủ thuật Vờn” thường dùng ở chân, tay, vai, lưng, sườn.

 

  • TÁC DỤNG:  - Ở sườn: Bình can giải uất.

                             - Ở nơi khác: Điều hòa khí huyết, làm mềm cơ, thông kinh lạc.

 

14. ẤN :

MÔ TẢ: Dùng đầu ngón tay cái dùng sức đè vào huyệt, rồi giữ nguyên ngón cái từ 10 đến 20 giây; nếu ấn ở chỗ rộng hơn thì có thể dùng gốc bàn tay, hoặc mô ngón út, mô ngón cái để ấn.

TÁC DỤNG: Thông kinh lạc, giảm đau tại vùng đau (Huyệt, tạng phủ, khớp)

 

 

15. DAY :

MÔ TẢ: Dùng ngón tay cái hay ngón giữa ấn lên huyệt người bệnh; sau đó di động ngón tay theo đường tròn, tay của thầy thuốc và da của người bệnh dính với nhau, da người bệnh di động theo tay thầy thuốc.

TÁC DỤNG: Giảm đau, giảm sưng, làm mềm cơ. Khu phong, thanh nhiệt.

 

 

16. ĐIỂM :

MÔ TẢ: Dùng ngón tay giữa để thẳng; ngón tay trỏ hơi cong lên để lên lưng ngón giữa, ngón cái để phía dưới bên trong ngón giữa, để đỡ cho ngón giữa; tác động thẳng góc và từ từ vào huyệt (Hoặc có thể dùng ngón cái, hoặc đốt thứ hai của ngón trỏ hoặc đốt thứ hai của ngón giữa). Nếu huyệt ở sâu như huyệt Hoàn khiêu, hoặc ở nơi có cơ dầy, dùng ngón tay không đủ sức, thì dùng khuỷu tay tác động thẳng góc vào huyệt; đó là thủ thuật mạnh nhất của xoa bóp.

Cách “Điểm” chia làm 3 thì:

Thì 1: Dùng ngón giữa, tác động nhẹ đến nặng, dần dần “điểm” sâu xuống huyệt, rồi không động nữa.

Thì 2: Trên huyệt đó, rung nhẹ ngón tay, mục đích là tăng cường kích thích lên huyệt (Khoảng 1 đến 2 phút).

Thì 3: Dần dần nhấc ngón tay lên, nhưng không rời da, sau đó làm lại các động tác trên 3 - 5 lần.

- Cần dựa vào tình hình bệnh hư thực của người bệnh để dùng sức cho thỏa đáng.

- Thủ thuật “Điểm” thường dùng ở mông, lưng, thắt lưng, tứ chi.

⇒ CHÚ Ý: Ngón giữa phải để thẳng và thẳng góc với mặt da. Không điểm bằng khuỷu tay cho những người có cơ mông nhão, mỏng, vì dễ làm ảnh hưởng xấu đến khớp háng.

⇒ TÁC DỤNG: Khai thông những chỗ bế tắc, tán hàn, giảm đau.

 

17. BẤM :

MÔ TẢ: Dùng ngón tay cái ấn mạnh vào huyệt, động tác mạnh, nhanh, đột ngột. Thường dùng bấm huyệt Nhân trung, Thập tuyên.

TÁC DỤNG: Khai khiếu tỉnh thần.     

 

 

 

18. VẬN ĐỘNG KHỚP CỔ :

QUAY CỔ: Bệnh nhân ngồi, thầy thuốc đứng sau lưng bệnh nhân, một tay đỡ cầm, một tay để ở xương chẩm, từ từ vận động đầu bệnh nhân qua phải, qua trái với phạm vi tăng dần.

Chú ý: Khi làm nhớ bảo bệnh nhân không cưỡng lại, đến khi nào tay thầy thuốc cảm thấy cơ mềm và không có trở lực gì ở tay, lúc đó thầy thuốc sẽ dùng sức hơi mạnh lắc đầu bệnh nhân về một bên rồi làm tiếp phía bên kia. Trong khi lắc như vậy, có thể nghe tiếng kêu ở cổ. 

 

NGHIÊNG CỔ: Thầy thuốc đứng sau lưng bệnh nhân, để một cẳng tay sát một bên cổ, tay kia làm động tác nghiêng cổ qua bên có tay chêm, đổi bên, luân phiên vài lần, rồi đột ngột nghiêng mạnh đầu sang một bên. Có thể nghe tiếng kêu ở khớp cổ. Làm thêm bên kia.

               

 

NGỬA CỔ: Thầy thuốc đứng sau lưng bệnh nhân, môt cẳng tay thầy thuốc để ở sau gáy người bệnh, tay kia để ở trán, làm động tác ngữa cổ, cúi cổ vài lần, rồi đột ngột ngữa mạnh cổ ra sau.

 

 

* TỔNG HỢP CÁC ĐỘNG TÁC CỔ: Thầy thuốc đứng sau lưng người bệnh, một tay để ở xương chẩm, một tay để ở dưới xương hàm dưới, dùng sức nhấc đầu bệnh nhân lên rồi vận động cổ: Quay, nghiêng, cúi, ngửa vài lần.            

                    

 

19. VẬN ĐỘNG KHỚP VAI:           

Quay vòng nhỏ: Bệnh nhân ngồi trên một ghế nhỏ, tay buông thõng; Thầy thuốc đứng sau lưng bệnh nhân, một tay giữ vai, một tay cầm cổ tay người bệnh, hơi dang tay (Khoảng 45) đồng thời quay tròn bàn tay 2 đến 3 lần.

  • Mục đíchChuẩn bị vận động khớp vai. Thăm dò phạm vi hoạt động của khớp. 

Quay vòng rộng ra trước: Bệnh nhân ngồi trên một ghế nhỏ, tay buông thõng; Thầy thuốc đứng sau lưng bệnh nhân, một tay cầm cổ tay người bệnh, kéo dãn cánh tay ra ngang, rồi đưa lên cao thẳng lên trời, vòng qua phía bên kia, trước và sát ngực, rồi vòng xuống dưới trở về tư thế ban đầu 3- 5 lần.

 

 

Ấn dãn vai: Bệnh nhân ngồi, hai bàn tay thầy thuốc gài với nhau để lên vai người bệnh, tay người bệnh để lên cẳng tay thầy thuốc. Thầy thuốc vừa ấn vai người bệnh xuống, vừa từ từ đưa tay người bệnh lên cao, rồi hạ xuống từ 3 - 5 lần. 

 

 

 

Quay vòng rộng ra sau: Bệnh nhân ngồi trên một ghế nhỏ, tay buông thõng; Thầy thuốc đứng sau lưng bệnh nhân, một tay giữ vai, một tay nắm bàn tay hoặc cổ tay người bệnh, rồi vòng cánh tay từ sau ra trước, từ dưới lên trên, rồi kéo xuôi tay người bệnh ra phía sau lưng và quặt lên phía bả vai; làm 2 - 3 lần.

 

( Hết phần 1 )

 

 

 

Đánh giá:

 

                   

5/5 (35 bình chọn)

Thời gian mở cửa: 7h00 - 19h00 hàng ngày. Nghỉ các ngày Lễ, Tết.

(Vui lòng liên hệ hẹn lịch trước khi đến khám chữa bệnh)

098 979 1982 - 091 868 1982 - 0227 6282 135   

► Buổi sáng: Từ 07h00 - 11h00:  PHÒNG KHÁM ĐÔNG Y THÁI BÌNH

Địa chỉ: Bệnh xá Bộ Chỉ Huy Quân Sự tỉnh - Đường Nguyễn Đức Cảnh - P. Hoàng Diệu - TP. Thái Bình

( Cách CÔNG VIÊN NƯỚC khoảng 500m, cạnh NHÀ VĂN HÓA LAO ĐỘNG TỈNH THÁI BÌNH )

► Buổi chiều: Từ 13h00 - 19h00:  PHÒNG KHÁM ĐÔNG Y PHẠM THANH TUẤN

Địa chỉ: Căn 117 Tầng 1 Tòa 1B - KĐT Petro Thăng Long - P. Quang Trung - TP. Thái Bình

( Đối diện cổng TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THÁI BÌNH đi vào 100m )

Nội dung trên trang website có tác dụng tham khảo, 

không sử dụng các thông tin này để chữa bệnh khi chưa có ý kiến của thầy thuốc.

 

Thiết kế bởi donet.vn

 

Đang xử lý...